Máy đo độ cứng là gì? Thông tin chi tiết về máy đo này

0
388

Độ bền của thiết hay linh kiện được xác định bằng yếu tố độ cứng của chúng. Do đó, sử dụng máy đo độ cứng giúp chúng ta nắm được những tiêu chuẩn này một cách chính xác. Đồng thời từng thiết bị cũng sẽ có độ cứng khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc tính của chúng.

1. Công dụng của máy đo độ cứng

Độ cứng của vật dụng càng cao thì khả năng chống sự lún của bề mặt khi có vật tác dụng càng lớn. Ngược lại, vật có độ lún càng nhỏ thì độ cứng càng cao. Độ cứng là một trong những đặc trưng cơ bản của vật liệu. Máy đo độ cứng ra đời dùng đẻ đo độ cứng dưới áp lực của trọng lực xác định.

Cách dùng máy đo độ cứng chính là dùng một mẫu thử của vật liệu. Sau đó, để có thể thâm nhập vào bề mặt của vật thử với độ sâu nhất định gọi là h. Độ sâu h này có thể toán được độ cứng của vật liệu.

2. Các dòng máy đo độ cứng tốt

Với sự phát triển của ngành điện và điện tử, thì máy đo độ cứng có nhiều hãng khác nhau.

2.1 Máy đo độ cứng rockwell

Vào nhưng năm 1908 đầu thế kỷ 20, thì giáo sư người áo tên là Ludwig đã đặt nền móng cho khái niệm về độ cứng. Và sau đó hai nhà khoa học là Stanley P.Rockwell và Hugh M.Rockwell đã dựa vào lý thuyết của Ludwig để tìm ra phương pháp máy đo rockwell.

Phương pháp này sử dụng một trong hai đầu đo là đầu đo kim cương có góc 120°. Hoặc đầu bi có đường kính 1/16, 1/8,1/4,1/2 inchs để đâm vào mẫu thử. Nguyên tắc thử là sử dụng hai lực khác nhau gọi là lực sơ cấp và lực thứ cấp. Sau đó tác động lên mẫu tạo ra các vết lõm trên mẫu. Sau khi chúng ta tính toán được độ cứng của mẫu bằng công thức tính lực tác dụng. Vết lõm càng sâu thì độ cứng càng nhỏ và ngược lại.

máy đo độ cứng
Máy đo Rockwell

2.2 Máy đo vicker

Phương pháp được phát minh bởi các kỹ sư của công ty vịcker năm 1924. Với phương pháp này sử dụng cho những mẫu có độ cứng cao và vật liệu mỏng. Phương pháp chỉ sử dụng một mũi đo kim cương duy nhất dạng hình chóp.

Với 4 cạnh có góc đối diện giữa các cạnh là 136°. Sử dụng các thang lực khác nhau là 50N,100N, 200N, 300N, 500N, 1000N để tác động vào mũi kim cương. Sau đó đo chiều dài đường chéo ký hiệu là D1, D2, từ đó có công thức tính ra độ cứng của vật liệu.

Xem thêm:

2.3 Máy đo SHORE

Đo động cứng SHORE được phát triển vào những năm 1920 bởi ông

Albert F. Shore. Ông đã phát minh ra thiết bị đo lường có tên là Durometer. Phương pháp đo độ cứng theo Shore đo độ cứng trong điều kiện đàn hồi của vật liệu. Và phương pháp này thường dùng để đo những chất dẻo như polime hay cao su.

Độ cứng shore là đơn vị dùng để đo độ bền của vật liệu chống lại lực ấn từ các mũi thử. Phương pháp đo này sử dụng máy đo độ cứng là phổ biến nhất. Và nó cũng được biết đến là độ cứng Dorometer. Máy đo Durometer sử dụng tải trọng được áp vào nhờ lò xo. Với giá trị được xác định bằng sự xuyên qua của đầu đo Durometer vào mẫu thử.

Độ cứng Shore sử dụng thang đo Shore A hoặc Shore D. Đây là phương pháp sử dụng cho cao su và vật liệu đàn hồi. Chúng cũng thường được sử dụng cho những chất liệu nhựa mềm hơn. Chẳng hạn như là : polyolefins, fluoropolymers, và vinyls. Thang đo Shore A dùng cho những vật liệu bằng cao su mềm, còn thang đo Shore D sử dụng cho vật liệu cứng hơn.

máy đo độ cứng
Máy đo SHORE nhỏ gọn

2.4 Máy đo độ cứng để bàn

Thiết bị này được đặt cố định trên bàn với đầy đủ những tính năng của một thiết bị đo hoàn chỉnh. Và chúng được sử dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm vật liệu. Ưu điểm của máy đo độ cứng đề bàn chính là cho kết quả chính xác cao. Chúng có thể kết nối với phần mềm để xuất kết quả ra excel.

Bên cạnh đó, loại máy này cũng có nhược điểm là không thể di chuyển ra khỏi kho. Hoặc hiện trường một cách linh động giống máy đo độ cứng cầm tay.

Chắc hẳn qua bài viết này bạn đã hiểu rõ hơn về máy đo độ cứng và công dụng của nó.