Nếu bạn đang tò mò về kỳ nhông hãy đọc bài viết này

0
569

Kỳ nhông là loài lưỡng cư trông giống như con lai giữa ếch và thằn lằn. Cơ thể của chúng dài và mảnh mai, da của họ ẩm và thường mịn và chúng có đuôi dài. Ở loài động vật này một số có phổi, một số có mang và một số chúng thở bằng da.

1. Kích thước của kỳ nhông

Với hàng trăm loại kỳ nhông khác nhau, kích cỡ khác nhau là điều bình thường. Theo Sở thú San Diego, hầu hết các loài kỳ nhông đều dài khoảng 6 inch (15 cm) hoặc nhỏ hơn. Loài lớn nhất là kỳ giông khổng lồ Nhật Bản (Andrias japonicus), có thể dài tới 6 feet (1,8 mét) từ đầu đến đuôi và có thể nặng tới 140 lbs (63 kg). Loài nhỏ nhất là Thorius arboreus một loài kỳ giông lùn nó có thể nhỏ tới 0,6 in (1,7 cm). 

Giống như các loài lưỡng cư khác, chúng có lớp da mịn hoạt động như một bề mặt hô hấp, nơi oxy đi vào cơ thể và thải ra khí carbon dioxide.

2. Môi trường sống của kỳ nhông

kỳ nhông
Môi trường sống của kỳ nhông

Chúng sống ở khắp nơi trên thế giới, nhưng Hoa Kỳ có số lượng lớn nhất trong các họ kỳ nhông khác nhau, theo Web Đa dạng Động vật của Đại học Michigan (ADW). Tất cả các họ của chúng đều được công nhận, ngoại trừ họ Hynobiidae (ở châu Á) đều được tìm thấy ở Hoa Kỳ. 

Môi trường sống của chúng còn phụ thuộc vào chủng loại. Đa phần chúng thường dành phần lớn thời gian trên cạn, vì vậy da của chúng khô và gập ghềnh. Các loài heo hút có phổi cũng như mang và dành phần lớn thời gian ở trong nước. Bất kể là loài nào, tất cả các loài này đều cần giữ ẩm cho da và có con trong nước. Vì vậy nguồn nước gần đó là rất quan trọng. 

Hầu hết các loài sống trong rừng ẩm ướt, mặc dù có một số ngoại lệ. Kỳ nhông harlequin Iran sống ở dãy núi Zagros phía tây Iran, nơi chỉ có nước trong ba hoặc bốn tháng một năm. Trong thời gian ẩm ướt, nó giao phối và kiếm ăn, sau đó đi vào giấc ngủ sâu trong hang trong thời gian khô ráo.

Xem thêm:

3. Thói quen của kỳ nhông

kỳ nhông
Thói quen của kỳ nhông

Kỳ nhông thường hoạt động nhiều hơn vào những thời điểm mát mẻ trong ngày và sống về đêm. Vào ban ngày, chúng nằm dài dưới đá hoặc trên cây để giữ mát. Vào ban đêm, chúng mới bắt đầu đi ăn.

Da màu sắc tươi sáng của chúng cảnh báo những kẻ săn mồi tránh xa. Nhiều loài có các tuyến trên cổ hoặc đuôi tiết ra chất lỏng có mùi vị khó chịu hoặc thậm chí có độc. Một số con cũng có thể tự bảo vệ mình khỏi những kẻ săn mồi. Bằng cách siết chặt cơ bắp của chúng, để làm cho các đầu nhọn như kim ở xương sườn chọc qua da và đâm vào kẻ thù. 

Một số loài có thể rụng đuôi khi bị tấn công và mọc đuôi mới. Các Kỳ giông Mexico, một kỳ giông thủy sản, có thể mọc lại tứ chi bị mất trong trận chiến với kẻ thù. Các cơ quan bị hư hỏng có thể phục hồi do một hệ thống miễn dịch đặc biệt.

4. Chế độ ăn và đẻ trứng của kỳ nhông

kỳ nhông
Chế độ ăn và đẻ trứng của kỳ nhông

Kỳ nhông là loài ăn thịt, có nghĩa là chúng ăn thịt thay vì thực vật. Chúng thích những con mồi di chuyển chậm khác như giun, sên và ốc sên. Một số loại lớn hơn ăn cá, động vật giáp xác nhỏ và côn trùng. Một số loài ăn ếch, chuột và thậm chí cả những loài kỳ nhông khác.

Nhiều loài đẻ trứng, nhưng đó không phải là tất cả. Ví dụ như kỳ nhông núi cao và kỳ nhông lửa sinh ra các con non. Tùy thuộc vào loài, những con này thường đẻ tới 450 trứng một lần. Ví dụ như kỳ giông lông dài Santa Cruz, đẻ từ 200 đến 400 quả trứng mỗi lần theo ADW.

Kỳ nhông gai bảo vệ trứng của chúng bằng cách cuộn tròn cơ thể của chúng xung quanh trứng. Họ cũng lật lại chúng theo thời gian. Một số con sa giông quấn lá quanh mỗi quả trứng để giữ chúng an toàn. 

Trứng của chúng có màu trong và như thạch, giống như trứng ếch. Trên thực tế, những con non cũng giống như ếch con. Trứng của chúng được đẻ trong nước và con non sinh ra không có chân. Con non trong giai đoạn ấu trùng được gọi là efts, theo Sở thú San Diego. Chúng giống như những con nòng nọc, và khi chúng lớn hơn, chúng sẽ mọc thêm chân. 

Một số loài kỳ nhông đang giảm dần từ thế hệ này sang thế hệ khác để đối phó với biến đổi khí hậu. Theo các nhà nghiên cứu tại Đại học Maryland, những con sống ở dãy núi Appalachian đang bị thu hẹp lại. Vì chúng phải đốt cháy nhiều năng lượng hơn khi khí hậu địa phương ngày càng khô nóng.